Dựa trên nguyên tắc chu kỳ của thiên can là 10 và chu kỳ của địa chi là 12, nếu biết một năm mốc nào đó là năm Giáp Tý, rồi tính từ năm đó đến năm đinh dậu, được bao nhiêu năm đem chia cho 12, số dư sẽ là số địa chi cần tìm.
Căn cứ vào năm Giáp Tý của Thượng nguyên đầu tiên mà người xưa quy định năm 2636 trước công nguyên, tính chuyển sang năm 0 của công nguyên (Năm 0 tức là năm thứ nhất trước công nguyên) là Thân = 0. Nếu số dư là 0 thì đó là năm Thân, dư 1 năm thì là năm Dậu, dư 5 là năm Sửu…
|
Trước CN |
0 |
11 |
10 |
9 |
8 |
7 |
6 |
5 |
4 |
3 |
2 |
|
|
|
Thân |
Đẩu |
Tuất |
Hợi |
Ty |
Sửu |
Dần |
Mão |
Thìn |
Tỵ |
Ngọ |
Mùi |
|
Sau CN |
0 |
1 |
2 |
3 |
4 |
5 |
6 |
7 |
8 |
9 |
10 |
11 |
Về thiên can, thì chu kỳ là 10, trùng với chu kỳ của số cuối của năm dương lịch sau công nguyên.
- Canh = 0
- Tân = 1
- Nhâm = 2
- Quý = 3
- Giáp = 4
- Ất = 5
- Bính = 6
- Đinh = 7
- Mậu = 8
- Kỷ = 9
Ví dụ:
Đổi năm 1965 sau công nguyên ra năm can chi.
Số dư là 9, năm đó là Tý.
Số cuối năm 1965 là 5 (Ất).
Vậy năm 1965 là năm Ất Tý.
Nếu là năm trước công nguyên thì:
- Canh = 0
- Kỷ = 1
- Mậu = 2
- Đinh = 3
- Bính = 4
- Ất = 5
- Giáp = 6
- Quý = 7
- Nhâm = 8
- Tân = 9
Ta có bảng thiên can sau:
Bảng thiên can và địa chi:
| Trước CN | 0 | 9 | 8 | 7 | 6 | 5 | 4 | 3 | 2 | 1 |
|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|
| Canh | Tân | Nhâm | Quý | Giáp | Ất | Bính | Đinh | Mậu | Kỷ | |
| Sau CN | 0 | 1 | 2 | 3 | 4 | 5 | 6 | 7 | 8 | 9 |
| Canh | Tân | Nhâm | Quý | Giáp | Ất | Bính | Đinh | Mậu | Kỷ |
Ví dụ: Đổi năm 604 sau công nguyên ra năm can chi
-
Bước 1: Chia năm cho 12 và lấy số dư
- 604 ÷ 12 = 50 dư 4.
Vậy, số dư là 4.
- 604 ÷ 12 = 50 dư 4.
-
Bước 2: Xác định năm can chi
- Sau công nguyên (sau CN): Số dư 4 tương ứng với Tý (theo bảng sau CN).
- Trước công nguyên (trước CN): Số dư 4 tương ứng với Thìn (theo bảng trước CN).
-
Bước 3: Kiểm tra số cuối của năm
- Số cuối của năm 604 là 4, tương ứng với Bính (theo bảng thiên can).
- Vì vậy, năm 604 sau CN là Giáp Tý, và năm 604 trước CN là Bính Thìn.
Số trên gạch ngang là số dư sau Công Nguyên (CN), số dưới gạch ngang là số dư trước CN.
Phương pháp đổi năm Dương Lịch sang năm Can Chi này có thể áp dụng cho bất kỳ năm nào, bao nhiêu năm trước CN hay bao nhiêu năm sau CN cũng được.
Phương pháp đơn giản, không cần bất kỳ tài liệu nào. Các phương pháp trước dãy có thể đổi được các năm sau CN và số năm có hạn. Muốn đổi những năm tiếp sau lại phải đối chiếu và tính toán tiếp.
PHONG THỦY
Phương pháp xác định tháng sao
Các tài liệu cổ cho biết, năm sao giác có tháng giêng ứng với sao [...]
Th12
Phương pháp xác định năm sao
Bằng phương pháp thống kê, người ta xác định được năm 00 là sao Khuê. [...]
Th12
Nhị thập bát tú (28 sao)
Nhị thập bát là 28 chòm sao trên trời mà người xưa đặt cho các [...]
Th12
Phương pháp tính can chi của ngày dương lịch
Số ngày dương lịch của từng tháng, từng năm tính theo quy tắc nhất định, [...]
Th12
Cách tính can chi của tháng âm lich theo dương lịch
Hiện nay, người ta dùng lịch Kỷ Dần, tức là tháng Giêng là tháng Dần, [...]
Th12
Cách đổi năm Can Chi sang năm Dương Lịch
Chu kỳ của năm Can Chi là 60 năm, bắt đầu từ Giáp Tý = [...]
Th12
Cách đổi năm dương lịch sang năm can chi
Dựa trên nguyên tắc chu kỳ của thiên can là 10 và chu kỳ của [...]
Th12
Phương pháp tìm mệnh cung
Tính toán tìm mệnh cung dựa trên nguyên tắc chu kỳ của một cung là [...]
Th12
Cửu cung bát quái và mệnh cung
Nhưng năm dương lịch và năm âm lịch không trùng nhau, thường thời gian cuối [...]
Th12
NỘI THẤT TRONG PHONG THỦY
Nội thất trong phong thủy là một khái niệm liên quan đến cách bài trí [...]
Th10
